Đã qua rồi cái thời kỳ kéo dài mấy thế kỷ, mà mỗi khi nói tới nghệ thuật tạo hình, người ta chỉ nghĩ đến hội họa, điêu khắc, kiến trúc. Nhờ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, đã đem lại những kích thước mới cho những nhận thức tưởng như đã định hình.
>> 10 kỹ thuật sáng tạo ảnh với nước
>> Kiến thức nhiếp ảnh: Tác phẩm ảnh với thực tiễn cuộc sống
>> Kiến thức nhiếp ảnh: Bố cục tạo hình trong ảnh
>> Kiến thức nhiếp ảnh: Tạo hình của ánh sáng và màu sắc
>> Kiến thức nhiếp ảnh: Sự cân bằng màu sắc
Ngày nay, cùng với ảnh đen trắng, ảnh mầu đã thực sự trở thành một ngôn ngữ tạo hình nghệ thuật, hoàn toàn có khả năng tác động vào tâm lý và cảm xúc thẩm mỹ của người xem. Đã có không ít những bức ảnh cuốn hút mạnh mẽ, dẫn dắt người xem vào một thế giới kỳ diệu của cảm xúc. Không những trên thế giới mà ngay ở Việt Nam ta đã có biết bao nghệ sỹ nhiếp ảnh đầy tài năng, làm chủ mầu sắc, ánh sáng, có khả năng tung hoành sử dụng đường nét, mảng khối, mầu sắc… Không “nô lệ” cho việc ghi chép sự vật, ngược lại họ gửi gắm rung động và tư duy sáng tạo riêng vào tác phẩm, mang đến cho công chúng thưởng thức nghệ thuật những ấn tượng sâu sắc.
Bến đợi - ảnh: Võ An Ninh
Xét từ góc độ thẩm mỹ, các nhà nhiếp ảnh cũng vận dụng mầu sắc, mảng khối, đường nét, bố cục… như họa sỹ. Nhà nhiếp ảnh cũng có bảng mầu, thang mầu, cũng xử lý các hợp sắc hài hòa hoặc đối chọi, êm dịu hay chói gắt… Ngoài ra, họ cũng tận dụng các yếu tố tạo hình khác như độ đậm nhạt, sáng tối. Về bố cục các nghệ sỹ nhiếp ảnh cũng có những lối bố cục như hội họa: nào là bố cục theo đường chéo, bố cục song song, đối xứng… Điều đó chứng tỏ rằng nhà nhiếp ảnh điều khiển một ngôn ngữ tạo hình mới mẻ, độc đáo, phong phú để tạo hình những tác phẩm biểu lộ những cảm xúc nhất định. Rõ ràng nhà nhiếp ảnh xây dựng tác phẩm bằng cách “vẽ bằng ánh sáng” lên mặt phim (hay thẻ nhớ). Vì vậy, ngày nay chúng ta có thể thấy trong sáng tác ảnh hiện đại cũng đủ mọi khuynh hướng nghệ thuật, mà đã ngự trị từ lâu trong hội họa từ “chủ nghĩa nhiên” (naturalisme),đến “chủ nghĩa ấn tượng” (impressionisme ); từ “xu hướng phân điểm” divisionnisme) đến “khuynh hướng dã thú” (fauvisme); từ “chủ nghĩa siêu thực” (surealisme) đến “chủ nghĩa trừu tượng” (abstractionnisme)… Nghĩa là hội họa có bao nhiêu thứ “chủ nghĩa” thì nghệ thuật nhiếp ảnh cũng có bấy nhiêu khuynh hướng.
Với những phương tiện đặc trưng của mình , nhiếp ảnh còn có thể sản sinh ra những khuynh hướng riêng như “duy họa” (pictorialisme) hay “đồ họa hóa học” (matereographisme) hay ảnh “ý tưởng” (một thể loại ảnh trong đó người ta có thể cắt ghép ảnh, sắp đặt hay vừa sử dụng ảnh kết hợp với vẽ và ngôn ngữ).
Cũng không khác hội họa, một số nhà nhiếp ảnh hiện nay thường thiên về những biểu hiện hình thức chủ nghĩa : chơi mầu, chơi nét, mảng khối… Họ tìm mọi thủ pháp biểu hiện sự ham thích chủ quan, trọng ngoại hình hơn là đi sâu khai thác nội dung, cuộc sống thực sinh động… Nhưng nhìn chung, đại đa số các nhà nhiếp ảnh thực hiện khá nhiều tác phẩm gợi cảm, gây xúc động thẩm mỹ sâu sắc khó quên đối với người xem, khiến người xem nhận ra ngay cách nhìn và lối chụp độc đáo, không sao chép sự vật và cũng không rập khuôn người khác. Đến nay, đã có nhiều tác phẩm ảnh ngoài nội dung đã biểu đạt cả những cảm thức, tư duy, kiến thức văn hóa, trình độ nghề nghiệp và khả năng sáng tạo của người cầm máy, mà tên tuổi của họ đã gắn liền với lịch sử nhiếp ảnh thế giới, đó là E. Weston (Mỹ), Hartvig (Ba Lan), Rotchenko (Liên Xô cũ ), Eisenstaedt… Ở Việt Nam đã có biết bao nhà nhiếp ảnh mà tên tuổi của họ gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc như Võ An Ninh, Vũ Năng An, Lâm Hồng Long, Mai Nam…
Mẹ con ngày gặp mặt - ảnh: Lâm Hồng Long
Ngày nay, nhiếp ảnh nghiễm nhiên giành một vị trí xứng đáng trong đại gia đình nghệ thuật tạo hình. Với tư cách là một ngôn ngữ tạo hình nghệ thuật, nhiếp ảnh cũng đòi hỏi người sáng tác phải có những cảm quan nhạy bén và kiến thức dồi dào về các giải pháp tạo hình không khác mấy với hội họa, đồ họa. Dù sinh sau đẻ muộn (ra đời 1839), nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, nhiếp ảnh đã vượt qua giai đoạn “cổ điển”với những công thức gò bó, để tung cánh ra không gian thoáng rộng, bỏ xa những kỹ thuật sơ đẳng, nhằm “truyền đạt trung thực”, để nói lên ý tứ nội tâm, gửi gắm những tín hiệu tình cảm.
Chúng ta thừa nhận, trong sáng tác nghệ thuật không thể có những công thức, quy tắc cứng đờ. Tuy vậy khoa học đã chứng minh rằng bản thân mỗi mầu sắc (cũng như âm thanh) đều tác động nhất định đến tâm sinh lý con người những ở mức độ khác nhau, song hiển nhiên đối với mỗi người, mỗi mầu đều có khả năng gợi cảm riêng. Các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng:
- Mầu đỏ, gợi cảm giác cuồng nhiệt,say đắm.
- Mầu da cam, gợi cảm giác rộn ràng, hào hùng, sôi nổi.
- Mầu vàng, gợi cảm giác mênh mang, chán nản, bệnh hoạn.
- Mầu lục ( Green ) , gợi cảm giác âm u, tĩnh mịch, trường cửu.
- Mầu lam, ( blue ), gợi cảm giác mơ màng, thư thái.
- Màu tím, gợi cảm giác thướt tha, trầm mặc, thầm kín…
- Mỗi mầu đều có khả năng gợi cảm riêng
Song để làm chủ được mầu sắc, phải có khả năng thành thạo sử dụng mầu sắc như là một ngôn ngữ diễn đạt phong phú và tinh tế. Do đó chúng ta không nói mầu “đỏ”chung chung, mà nói mầu đỏ thắm của chiến đấu, mầu đổ trầm mặc của hoa hồng quế, mầu đỏ lộng lẫy của hoa phượng trưa hè… Ta cũng không nói “mầu lục” chung chung, mà sẽ phân biệt sắc mạ non tơ, với ánh biếc mặt hồ hay mầu xanh cổ kính của rặng thông già… Rõ ràng qua sự phân tích trên cho thấy mầu sắc tác động vào tâm tư tình cảm con người trong những bối cảnh nhất định vào những tình huống nhất định gắn liền với những nhân tố khác và mỗi lúc một đổi thay không ngừng.
Nhưng chúng ta biết rằng, mầu sắc và chất lượng bề mặt của vật chất được biểu lộ ra khi bề mặt này hấp thụ một số bước sóng ánh sáng chiếu lên bề mặt đó và phản chiếu lại mắt người (hay ống kính máy ảnh) với những bước sóng khác nhau. Nhưng sự phản xạ, khuếch tán này có thể bị lóa, nếu bề mặt của vật đó lóng lánh như mặt giấy bóng láng, mặt kim loại bóng hay mặt nước phẳng lặng… Trong trường hợp này bề mặt của vật trở nên chói sáng, vì tất cả ánh sáng chiếu lên những bề mặt này đều bị phản xạ trở lại. Muốn loại bỏ những tia chói lóa này, để thể hiện được chất lượng thực của bề mặt vật chất, đòi hỏi nhà nhiếp ảnh phải xử lý được sự phân cực của ánh sáng phản xạ chói lóa này, khi chụp phải dùng kính lọc phân cực (polarizing).
Chúng ta biết rằng bản chất ánh sáng trời, cũng như các nguồn sáng nhân tạo đều không bị phân cực. Nhưng khi ánh sáng phản xạ lên bề mặt của một vật lóng lánh, thì ánh sáng phản xạ chỉ dao động trên một mặt phẳng duy nhất , đó chính là ánh sáng phân cực. Kính lọc phân cực có cấu tạo đặc biệt chỉ cho ánh sáng nào chư bị phân cực đi qua mà thôi , vì thế nên khi ta chụp lên phim không bị lóa sáng. Các nhà nhiếp ảnh nắm được điều đó sẽ giúp cho việc tạo hình trung thực.
Theo Điện Tử Tiêu Dùng
Link to full article
No comments:
Post a Comment